Thiên Đạo Học Khắc Kỷ Khổ Tu
Giáo lí này xuất hiện trong thời kỳ hậu sứ đồ, và bành trướng mạnh trong các dòng phái khổ tu (monasticism, đã chủ trương và tạo nên các dòng tu khổ hạnh vào giữa thế kỷ thứ 4 và 5 ở Ai Cập, Nam Phi). Mục đích chính là cố gắng vươn lên sống đời sống đạo hạnh trọn vẹn của người theo Chúa, tránh xa những ham muốn trần tục xấu xa, biệt riêng mình ra để phục vụ Chúa, và chuyên chú giảng giải Kinh Thánh cho tín hữu. Trong số này có những người nổi tiếng như Augustine, Thomas. Có lẽ người khởi xướng giáo lí khắc tu này là “Shepherd of Hermas” (Người Chăn Bầy ở Hermas), với ý thức rằng mình phải sống đời sống kỷ luật trong sự tương giao với Chúa, trong sạch trong tâm linh và hy sinh cá nhân cho đạo Chúa. Ý thức này ảnh hưởng mạnh mẽ trong các dòng tu Công Giáo.
Trong thời kỳ Cải Cách, các Giáo Phái Tin Lành nói chung đã biến cải, chú trọng vào đời sống tâm linh với chiều hướng “tâm niệm” (meditation) theo Chúa hơn là khổ tu, như Thomas à Kempis với quyền “Imitation of Christ”, như J. Wesley với holiness (thánh khiết), Lutheran pietism (tận hiến, thanh hiến), Calvinist và nhóm Moravian puritanism (thanh khiết). Đến cuối thế kỷ 20, 21, các giáo hội ngày nay nhấn mạnh đời sống “giống Chúa” (to be like Christ), vì đã có ảnh hưởng một phần lớn giáo thuyết khổ tu này qua sự tâm niệm (meditation), kỷ luật tâm linh (spiritual discipline) và nếp sống mẫu mực tín đồ (discipleship).
