Hate

Ghét

Tiếng Hêb-rơ “sane”, tiếng Hy-lạp. “misein”, La-tin “odium”. Đối nghịch mạnh mẽ với “yêu.” Hai từ này đối nghịch nhau, từ bản chất, hành vi và tư tưởng. “Ghét” là cơ sở căn gốc của tội nhân trong mối tương giao giữa người với người (Gal. 5:20); ganh tị, ganh ghét còn tàn tệ hơn thế, là cội nguồn của huỷ diệt và đau khổ (Gia-cơ 3: 14-16), để đi đến bất phục tùng lời Chúa và chính Chúa.. Từ “ghét” không đứng một mình, luôn luôn đi kèm với: ganh tị, đố kị, ghen tị, ghen tương, tranh cạnh, nói dối, tạo nên thù địch cuối cùng là không đứng chung lẽ thật, mà còn “ghét” luôn cả Chúa nữa (Giăng 15:23).
Trong Cựu Ước và trong Bản Kinh 70 (LXX) đã được dùng khi hai đối thủ là kẻ thù với nhau (Sáng 26:27; II Sam.58; I Vua 22:8). Tính chất ghét được diễn tả trong nhiều chiều kích: – Đức Chúa Trời ghét điều gian ác (Thi Thiên 97:10). – Đức Chúa Trời ghét kẻ thờ hình tượng (Các sách Tiên Tri). – Đức Chúa Trời ghét kẻ gian dối và Ngài gớm ghiếc kẻ giả hình (Phục 12:31; 16:22; Jer. 44:4) v.v… Tân Ước, lập lại qua Chúa Jesus như ở trên “kẻ giả hình” qua Ma-thi-ơ 23. Cho dù là thế, Đức Chúa Trời luôn luôn yêu thương tội nhân và luôn luôn tỏ lòng nhân từ cứu vớt họ. Nhưng Ngài “ghét” tội lỗi. Nhưng không vì ghét “tội lỗi” mà huỷ diệt con người. Ngài mở con đường “ăn năn” như là cánh cửa để bước đến cái “xoá bỏ cái ghét” (tội lỗi) trở lại sự yêu thương của Ngài. Đoạn đường đi trong sa mạc Si-nai đã diễn tả không biết bao nhiêu lần, dân It-ra-ên chọc tức Chúa, tức là chọc cho Chúa ghét… nhưng bởi họ ăn năn, Chúa tạo con đường tốt nhất cho dân It-ra-ên vào được đất hứa “đượm sửa và mật”.

Loading

0 0 đánh giá
Chấm Điểm Mức Độ Chính Xác Từ Vựng Này
Theo dõi
Thông báo của
0 Góp Ý Từ Vựng
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả góp ý
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy góp ý từ vựng.x